Giới-thiệu

Thân-thế
Thành-tích
Privacy Policy

Hữu-ích

Lập-kế-hoạch-tài-chính gia-đình

Đầu-tư-cổ-phiếu

Các loại bảo-hiểm

Câu-chuyện

Kinh-nghiệm

Máy-tính

Chữ-Việt

Linh tinh

Ý kiến

Danh mục

Download
Mục lục





Cách bảo vệ tài sản trong thời đại số hoá

Viết lần đầu trong Tháng Ba, 2020. Sửa lần cuối trong Tháng Mười Một, 2021.
Dàn bài:

Tài sản trong thời đại số hoá có những rủi ro gì khác?

Thời nay đa số người ta đều có một thứ tài sản đặc biệt cần giữ là các file: file hình/video chụp bằng camera/phone, file nhạc để nghe bằng phone/computer, tài liệu soạn ra khi làm việc và ghi chép cá nhân… Mặc dù cách dùng các file đó khác nhau nhưng bên trong mỗi file chỉ chứa toàn các số 0 và 1 cho nên chúng ta gọi đó là tài sản số hoá. Những tài sản số hoá đều có một giá trị vật chất hoặc tinh thần nào đó. Chúng có giá trị vật chất khi chúng ta có thể bán, cho thuê, ví dụ như bán những tấm hình đẹp, cho người ta xem những video clip để thu tiền quảng cáo… Một vài loại tài sản số hoá có giá trị vật chất rất cụ thể là tài khoản ngân hàng, ví điện tử, giá trị của những tài sản này bằng số tiền có trong tài-khoản hoặc ví.
Những tài sản số hoá đó được tạo ra và giữ trong thẻ nhớ, USB drive, ổ đĩa cứng, smartphone… và chúng rất dễ bị mất đi vì vật chứa bị mất hay hư bất ngờ hoặc người chủ lỡ tay xoá mất.

Ngoài ra, ngày càng có nhiều file do chúng ta tạo ra nhưng không được giữ trong tay chúng ta mà nằm trong các cloud server của các nhà cung cấp dịch vụ như Google, Facebook, Dropbox… Chúng ta giữ những file đó bằng password, mất password là mất hết file. Password giống như một cái chìa khoá để mở cái tủ chứa tài sản số hoá.

Chống rủi ro hư hoặc mất

Những tài sản số hoá do cá nhân tự giữ trong thẻ nhớ, USB drive, ổ đĩa cứng… có thể bị hư hoặc mất. Để phòng ngừa hư và mất thì chúng ta chép các file đó ra nhiều nơi, nhưng chép ra nhiều nơi rồi thì chúng ta phải nhớ nơi nào chứa file mới nhất, nơi nào cũ hơn. Cách tiện lợi nhất bây giờ là để cho file tự động được chép vào đám mây, các dịch vụ đám mây tự động giữ nhiều version của từng file từ cũ đến mới nhất. Chúng ta có thể dùng các dịch vụ cloud storage miễn phí, hoặc có trả tiền hàng tháng hay hàng năm, hoặc trả tiền một lần để dùng mãi mãi, hoặc chúng ta tự tạo một cloud storage để dùng.

Đề phòng rủi ro mất trộm

Các file của cá nhân tạo ra có thể có giá trị nào đó đủ để kẻ xấu muốn lấy trộm. Mỗi loại file có giá trị khác nhau:

Mỗi người có tài sản số hoá đều cần phải chú ý giữ cho đừng bị mất trộm:

Trường hợp khác

Một trường hợp bị lộ file riêng tư một cách không ngờ đó là giao máy tính hoặc smartphone bị hư cho thợ sửa và thợ đọc được những file trong đó. Để tránh bị như vậy, bạn hãy yêu cầu thợ gỡ đĩa cứng, thẻ nhớ đưa lại cho bạn trước khi bạn rời khỏi cửa hàng.
Smartphone đã có sẵn tính năng mã hoá các file ghi vào bộ nhớ của nó. Trước khi dùng máy mới, bạn cần xem lại xem tính năng đó có bật lên chưa. Với tính năng đó thì thợ sửa smartphone sẽ không thấy được những file trong máy nếu không có password để login. Và bạn luôn luôn nhớ đừng giao password để thợ thử máy trong khi sửa. Thay vì giao password, bạn hãy đồng ý để thợ factory reset smartphone của bạn. Thà mất hết file còn hơn để lộ những file riêng tư.

Bảo vệ password

Bây giờ có quá nhiều dịch vụ được cung cấp (miễn phí hoặc có thu phí) qua Internet. Để sử dụng dịch vụ thì chúng ta phải được server xác thực bằng cách trả lời password. Dùng máy tính và smartphone cá nhân cũng cần password. Một số file đặc biệt quan trọng trong máy cá nhân cũng cần password riêng để mở.

Những người mới làm quen với máy tính và smartphone thường dùng những password đơn giản. Kẻ gian cũng biết điều đó nên chúng có một danh sách rất dài những password thường gặp và chúng dùng phần mềm để thử lần lượt các password đó để cố login vào các server nhằm tìm kiếm những thông tin riêng tư. Để tránh bị mất tài sản số hoá do password quá đơn giản thì mỗi người phải tập dùng password rắc rối hơn, một số server cũng chỉ cho dùng password không quá đơn giản.

Làm sao nhớ hết được quá nhiều password thật rắc rối ở quá nhiều nơi như vậy?

Chống quên

Một cách đơn giản để nhớ hết password là dùng chung một password ở tất cả các nơi 😉.
Bạn đừng làm theo cách đơn giản này nha. Một lý do mà nhiều người thường nói đến để cản bạn là “khi bị lộ password thì tất cả các dịch vụ đều bị xâm phạm”. Còn một lý do thực tế hơn nữa, đó là “không thể giữ password giống nhau mãi ở tất cả mọi nơi”. Ban đầu bạn chọn một password tốt và dễ nhớ để dùng ở tất cả mọi nơi, mọi việc khá đơn giản. Sau một thời gian, bạn gặp một server nào đó yêu cầu bạn phải dùng password rắc rối hơn, thế là bạn có hơn một password phải nhớ. Sau một thời gian nữa, một server nào đó yêu cầu bạn đổi password định kỳ, thế là bạn có cả đống password phải nhớ. Không thể áp dụng cách đơn giản này được lâu đâu.

Một cách cũng đơn giản khác nữa là bạn có thể không cần nhớ tất cả password, chỉ cần nhớ password của một dịch vụ email để dùng địa chỉ email nhận password mới mỗi khi quên password ở các dịch vụ khác. Làm theo cách này cũng không dở, tuy nhiên bạn sẽ tốn thời gian để lấy password mới và trong nhiều trường hợp bạn cần phải nhớ câu trả lời cho câu hỏi riêng tư như là họ của mẹ bạn, tên trường tiểu học đầu tiên của bạn, tên con chó đầu tiên của bạn…

KeePass

Một cách chống quên chắc chắn nhất là bạn ghi chép tất cả password, nhưng không phải ghi vào sổ tay hay ghi vào file bình thường đâu. Việc ghi password vào sổ tay hay ghi vào file bình thường cũng có những rủi ro, ví dụ như có thể bị lộ.

Bạn hãy dùng phần mềm quản lý password để ghi tất cả các password và các thông tin quan trọng khác (ví dụ số thẻ ngân hàng, activation key của software). Tất cả những thứ đó được ghi vào một file database, bạn bảo vệ file database đó bằng một password thật tốt và thật dài, và bạn chỉ cần nhớ một password cuối cùng đó thôi. Password thật dài đó không nhất thiết phải thật rắc rối với những ký hiệu khó nhớ như !@#$%^&, nó có thể là một câu thơ bạn rất thích, được viết hoa vài chữ, và được thêm vài số có ý nghĩa riêng tư nào đó. KeePass là một phần mềm như vậy, nó có thể dùng được trên Linux, Windows, Android, iOS.

Các entry trong KeePass database được sắp xếp thành nhiều nhóm, ví dụ như nhóm công việc, nhóm ngân hàng, nhóm giải trí, nhóm mua sắm… Mỗi entry được ghi nhiều mục: title, user name, password, expires, và các mục do bạn tự đặt tên và giá trị. Tôi tự đặt thêm hai mục address và passphrase cho ví tiền Pi.
Tất cả thông tin ghi trong file KeePass database được mã hoá bằng password của file nên dù kẻ gian có chép được file database và đọc từng byte trong file database đó cũng không thể thấy được những gì ghi trong đó. KeePass có một password generator để tạo ra những password khó đoán để bạn dùng ở những server có yêu cầu cao, tôi tin rằng các password đó là không thể đoán được và cũng không thể nhớ được, để dùng những password đó bạn chỉ có cách mở KeePass ra và copy rồi paste. KeePass giữ lại lịch sử những lần sửa đổi của từng entry.

Dùng chung một file KeePass ở nhiều máy

App KeePass trong smartphone Android mở được file trong các cloud storage server Dropbox, Google Drive, OneDrive, OwnCloud, Nextcloud, pCloud và WebDav, SSH, FTP. KeePass tự động sao một bản của database trong smartphone và làm việc trên bản sao đó. Bạn chọn Synchronize database trong menu ba chấm để đồng-bộ bản sao đó với bản chính trong cloud storage server. Như vậy bạn không cần đồng-bộ bằng các app cloud storage client.
Để dùng như vậy bạn hãy chép file KeePass của bạn vào một cloud storage, đồng-bộ giữa cloud và tất cả các máy tính, mở file đó từ cloud strorage bằng app KeePass trong smartphone.
Chú-ý: bạn cần phải đồng-bộ database với cloud storage ngay sau khi sửa ở một máy để tránh bị mất thông tin, xem thêm trong bài Kinh nghiệm dùng cloud storage.

Tôi đang dùng phần mềm KeePass để giữ tất cả thông tin như vậy. Để tiện dùng những thông tin đó mọi lúc và mọi nơi, tôi để file KeePass database của tôi trong một cloud storage và đồng-bộ nó về máy tính cũng như smartphone. Mặc dù để file KeePass trong Internet nhưng tôi không lo ngại gì hết vì kẻ gian phải qua hai lớp khoá mới lấy được file đó: password của cloud storage và password của file đó (ai mà biết được tôi thích câu thơ nào).

Nếu bạn chỉ dùng một máy smartphone (không có máy-tính), bạn cũng nên để file KeePass của bạn trong cloud storage để tránh rủi-ro hư hoặc mất smartphone. Ngay khi tạo file KeePass, bạn hãy chọn tạo file trong cloud strorage.

KeePass trong Android

Khi dùng app KeePass trong smartphone Android, bạn không cần copy và paste. App tạo ra sẵn một bàn phím ảo, bàn phím ảo này tự động chứa các mục của entry bạn đang mở trong KeePass. Ví-dụ bạn cần login vào website Dynv6 từ smartphone, bạn làm theo các bước:

  1. mở app Firefox,
  2. chọn ô nhập URL,
  3. chọn dùng bàn phím ảo Keepass2Android từ danh sách các bàn phím ảo đang có trong máy (Gboard, Laban Key, SwiftKey…),
  4. bấm vào logo của KeePass là nút hình ổ khoá,
  5. chọn Select entry, app KeePass hiện lên,
  6. gõ ba chữ cuối của password để Quickunlock KeePass
  7. chọn entry Dynv6 trong KeePass,
  8. app Firefox hiện ra, với các tên mục để chọn, nếu chiều ngang màn hình không đủ chỗ để hiện tất cả các mục, sẽ có dấu > để lần lượt xem các mục, bạn chọn URL để dán URL của Dynv6 vào, bấm Go để mở trang web,
  9. chọn Sign in trong trang web rồi chọn mục User để dán user name, chọn mục password để dán password vào đúng ô.

Sau vài chục giây thì app KeePass sẽ tự xoá hết các mục thông tin trong bàn phím ảo và trở về bàn phím default, bạn cũng có thể trở về bàn phím default bằng cách bấm phím hình ổ khoá mờ ở góc bên phải.

Đề phòng bị trộm password

Ngoài rủi ro quên mất password, còn có rủi ro bị người khác biết được password. Việc mất trộm password thường là do bị lừa:

Để tránh bị lừa thì bạn hãy bình tĩnh đọc kỹ những thông báo nhận được, và tránh cài những phần mềm không rõ nguồn gốc (phần mềm đã crack), cân nhắc cẩn thận khi mở những file đính kèm email.
Bạn cũng nên nhớ rằng không bao giờ gõ password của mình ở máy của người khác. Lý do là bạn không thể biết chắc rằng máy đó không có malware trộm password. Khi tôi cần dùng máy ở tiệm in, tôi luôn luôn chuẩn bị sẵn những thứ cần in thành các file pdf, và để các file đó trong một cloud storage mà không cần password.

Một trường hợp bị mất password khác là server dịch vụ bị hacker xâm nhập và lấy hàng loạt thông tin người dùng, bao gồm tên tài khoản, địa chỉ email, password… Bạn có thể đến trang web have i been pwned? dò xem những địa chỉ email nào của bạn đã bị lộ tại những dịch vụ nào.

Và bạn hãy luôn luôn dùng lớp bảo vệ thứ hai (được giải thích dưới đây) để khỏi bị mất tài khoản khi password đã bị trộm mất.

Password ở những chỗ khác

Ngoài việc dùng password để login vào các dịch vụ web, password còn được dùng ở nhiều chỗ khác nữa:

Bảo vệ hai lớp (Two Factor Authentication)

Một số dịch vụ tăng mức độ bảo vệ lên bằng cách dùng thêm password thứ hai, sau khi server đã nhận được password thứ nhất đúng rồi, nó hỏi thêm password thứ hai để chắc chắn rằng người trả lời thật sự là chủ tài khoản, không những biết password mà còn đang giữ một vật của riêng chủ tài khoản. Password thứ hai thay đổi liên tục theo thời gian và mỗi password chỉ có hiệu lực trong vài phút, nó gọi là One Time Password. Có hai cách để có OTP mà gõ vào.

Nhận OTP qua SMS

Sau khi nhận được password thứ nhất đúng, server sẽ gửi cho user một OTP qua SMS đến một số điện thoại di động của user.
Với những dịch vụ có giá trị lớn (liên quan đến nhiều tiền), kẻ gian sẽ cố tìm cách chiếm được cả password thứ nhất và số điện thoại của nạn nhân để chiếm quyền sử dụng dịch vụ. Nhiều vụ như vậy đã xảy ra trên thế giới và ở Việt Nam.

OTP tự tạo

Để tránh bị chiếm mất OTP trên đường truyền đến người dùng, một số dịch vụ cho người dùng tạo OTP bằng một máy tạo OTP nhỏ như ngón tay gọi là token, hoặc tạo OTP bằng một app trong smartphone. App tạo OTP có thể là app của riêng từng dịch vụ (ví dụ như app của riêng mỗi ngân hàng), hoặc app dùng chung cho nhiều dịch vụ (ví dụ Authy, Google Authenticator dùng chung cho Google, Microsoft, Facebook). KeePass cũng có thể tạo ra OTP. Tôi đang dùng Authy để tạo OTP cho các account Google, Microsoft Outlook, Github, pcloud, Firefox và Facebook.

Authy

Authy là app chạy trong smartphone (và Linux, Mac, Windows) để tạo OTP cho nhiều dịch vụ trong Internet. Sau khi cài Authy vào máy, bạn đăng ký sử dụng bằng một địa chỉ email và cung cấp một số điện thoại để bắt đầu dùng, sau đó bạn bảo vệ app Authy của bạn bằng một password và một PIN. Bạn nên ghi các thông tin đó vào KeePass để dùng khi cần cài lại Authy.
Sau khi cài và đăng ký account Authy, bạn bắt đầu đưa các dịch vụ cần bảo vệ bằng OTP vào Authy. Các dịch vụ phổ biến dùng được với Authy là Google, Facebook, Microsoft, Firefox, pCloud. Danh sách đầy đủ các dịch vụ được ghi ở Two Factor Auth.

Bạn có thể cài Authy trên vài máy cá nhân với cùng một account Authy. Khi đó OTP cho các dịch vụ được bảo vệ sẽ đồng bộ ở tất cả những máy đó. Nếu bạn lỡ mất hoặc xoá Authy ở một máy thì vẫn dùng được Authy ở các máy khác.
Nếu bạn chỉ có một máy cài Authy mà bị mất, bạn phải cài lại Authy để dùng. Khi cài lại Authy bạn sẽ dùng lại địa chỉ email, password đã ghi nhớ lúc trước, và bạn phải xác thực bằng một OTP nhận qua số điện thoại đã đăng ký.

Vật xác thực danh tính

Ở mức độ an toàn hơn password và OTP, các server yêu cầu người dùng chứng tỏ không giả mạo bằng một vật không thể sao chép được, ví dụ như vân tay hay authenticator (security key, chìa khoá an ninh kỹ thuật số). Khi dùng phương pháp xác thực này thì password không còn cần thiết nữa.
Phần mềm của dịch vụ sẽ liên lạc với đầu đọc vân tay (có sẵn trong máy hoặc nối với máy tính qua USB hoặc Bluetooth) để đọc vân tay của người dùng trước khi bắt đầu giao dịch.

Hình từ TheVerge.com

Authenticator là một máy mã hoá nhỏ như cái móng tay. Nó chứa chìa khoá riêng (private key) của người dùng trong cặp chìa khoá public-key cryptography đã đăng ký với server của dịch vụ. Mỗi khi người dùng login vào dịch vụ thì server dịch vụ gửi đến máy của người dùng một chuỗi thử thách (challenge), máy của người dùng giao chuỗi thử thách đó cho authenticator qua USB hoặc NFC hoặc Bluetooth, authenticator chuỗi thử thách bằng private key rồi gửi trở lại server, server dùng public key của người dùng để kiểm xem chữ ký đó có khớp không. Private key của người dùng không bao giờ xuất hiện bên ngoài authenticator nên không sợ bị lộ. Authenticator có thể chứa vô số private key nên một người dùng với một authenticator có thể tạo tài khoản ở vô số dịch vụ, nhiều tài khoản ở cùng một dịch vụ. Authenticator đang dần trở nên phổ biến, đến một lúc nào đó người ta không cần password ở mọi nơi.
Biện pháp này chặt chẽ như vậy nhưng cũng không bảo vệ tuyệt đối được. Đã có trường hợp trong khi ngủ chủ tài khoản bị người cùng nhà dùng đầu ngón tay để thực hiện giao dịch chuyển tiền đi mất. Trong trường hợp không tin tưởng người cùng nhà thì nên tắt hoặc cất smartphone vào trong két sắt khi đi ngủ.

Digital Signing

Trong phần trên, chúng ta được biết authenticator hay security key chứa những cặp chìa khoá public-key cryptography của những tài khoản ở các nhà cung cấp dịch vụ, và authenticator sẽ ký chuỗi thử thách để người-dùng được login vào dịch vụ, gọi là xác thực danh tính, authentication.

Cặp chìa khoá public-key cryptography còn được dùng để ký các chứng từ giao dịch, ví dụ file hợp đồng, file biên bản… Đó là ứng dụng chữ ký số. Mỗi người đều có thể tự dùng software để tạo ra cặp chìa khoá public-key cryptography, nhưng muốn cho chữ ký số được công nhận có giá trị thì phải mua từ các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số được cấp phép từ chính quyền và phải trả tiền hàng năm. Chữ ký số thường chứa trong một USB token hoặc chứa trong SIM điện thoại di động. Khi ký văn bản thì phần mềm ký sẽ tạo ra chuỗi hash từ văn bản, giao chuỗi hash cho USB token hoặc SIM điện thoại ký.

Gần đây có một cách ký gọn hơn, đó là Remote Signing, ký trên smartphone. Khi cần ký, phần mềm ký sẽ tạo ra chuỗi hash từ văn bản, gửi chuỗi hash đó đến server của nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số, server sẽ hỏi người giữ chữ ký qua smartphone, chủ smartphone đồng ý hoặc từ chối ký với server, server gửi kết quả trở lại cho phần mềm ký.

Việc dùng chữ ký số đã rất phổ biến ở các doanh nghiệp Việt Nam vì các giấy tờ khai thuế và khai hải quan đều phải có chữ ký số để nộp qua mạng. Cá nhân thì không có nhu cầu dùng chữ ký số.

Trong đại dịch Covid-19, Bộ Công An đã đưa ra app VNeID để người dân khai những nơi sắp đến, một việc không thực tế vì ngay cả khi đến trụ sở công an quận cũng không ai hỏi đến việc khai đó. Nhưng dường như app VNeID sẽ là một dịch vụ authentication và Remote Signing cho toàn dân. Cổng dịch vụ công quốc gia sẽ đổi sang xác thực danh tính bằng VNeID. Các ngân hàng cũng sẽ dùng VNeID để xác thực danh tính người-dùng và ký lệnh giao dịch.
Tôi hình dung rằng hệ thống cung cấp dịch vụ sẽ hiện ra một QR-code chứa chuỗi thử thách, người-dùng mở app VNeID scan QR-code đó, VNeID ký chuỗi thử thách bằng private key rồi gửi về hệ thống định danh điện tử, hệ thống định danh điện tử kiểm tra bằng public key rồi trả lời cho hệ thống cung cấp dịch vụ biết có đúng người hay không. Nếu dùng dịch vụ trên smartphone thì app cung cấp dịch vụ sẽ gửi chuỗi thử thách thẳng qua app VNeID thay vì app VNeID scan.
Khi cần ký lệnh giao dịch, hệ thống ngân hàng gửi chuỗi hash của lệnh đến server VNeID, server gửi chuỗi hash đến app VNeID, người-dùng đồng ý hoặc từ chối ký trên app VNeID, chuỗi hash đã ký được gửi về server VNeID rồi gửi đến server ngân hàng để thực hiện giao dịch.

Di sản số

Những tài sản có một giá trị nào đó (vật chất hay tinh thần) đều cần phải được truyền lại khi người chủ tài sản qua đời, không nên để bị quên lãng giống như những trường hợp chôn vàng dưới nền nhà mà người nhà không biết.
Người chôn vàng dưới nền nhà nên viết rõ chỗ chôn vào di chúc. Di chúc được niêm phong và cất cẩn thận, người thân sẽ mở di chúc sau khi người viết qua đời.
Với tài sản số hoá thì viết vào di chúc như thế nào? Viết tên và password lên giấy rồi niêm phong lại ư? Mỗi khi có một password cần phải đổi thì lại phải chép lại di chúc sao? Mất công quá, hãy làm di chúc số!
Google có một khả năng gọi là Inactive Account Manager rất tiện cho việc để lại tài sản số hoá. Khi Google thấy bạn không dùng tài khoản của bạn từ ba tháng trở lên, Inactive Account Manager sẽ gửi một email báo cho một vài người thân mà bạn đã chọn sẵn và cho những người đó dùng một vài loại tài sản số hoá mà bạn đang để trong Google.

Còn tài sản số hoá trong những dịch vụ khác thì làm sao để truyền lại? Tôi sẽ dùng Inactive Account Manager bắc cầu qua dịch vụ cloud storage để truyền lại tất cả tài sản số hoá như sau:

Tài khoản ở ngân hàng

Tài khoản của bạn ở ngân hàng cũng là tài sản số hoá, nhưng là số tiền, cụ thể hơn loại tài sản số hoá ở trên.

Đối với loại tài sản số hoá là tài khoản trong ngân hàng thì chìa khoá gồm có một cái thẻ gắn liền với PIN (Personal Identification Number) và số điện thoại di động. Số điện thoại di động được dùng để nhận OTP (One Time Password) qua SMS khi dùng thẻ qua Internet (để trả tiền mua hàng hoặc chuyển tiền sang tài khoản khác). Kẻ gian đã tìm ra những cách để chiếm quyền sử dụng số điện thoại của chủ tài khoản, hoặc lén cài phần mềm gián điệp vào smartphone để lấy cắp OTP trong SMS và chuyển hết tiền sang tài khoản khác. Gần đây các ngân hàng đã dùng loại chìa khoá tốt hơn số điện thoại di động, đó là app tạo ra OTP trên smartphone. Tuy nhiên, kẻ gian vẫn nghĩ ra nhiều kịch bản để lừa chủ tài khoản giao OTP cho bọn chúng và các ngân-hàng đã liên-tục nhắc-nhở “không giao OTP cho bất-cứ ai, kể-cả nhân-viên ngân-hàng”.

Đối với thẻ, khi dùng thẻ để rút tiền ở ATM thì máy luôn luôn hỏi PIN. Nhưng khi dùng thẻ để trả tiền mua hàng qua máy POS thì có trường hợp máy hỏi PIN (thường là thẻ debit), có trường hợp máy không hỏi PIN (thường là thẻ credit). Khi thẻ credit của bạn bị mất, kẻ gian sẽ cầm thẻ đi mua những món đắt tiền rồi đem bán lại. Ở nước ngoài, khi bạn báo cho ngân hàng biết rằng bạn bị mất thẻ thì ngân hàng không bắt bạn trả những món tiền đã chi tiêu từ lúc mất thẻ. Ở VN, bạn phải trả tiền cho ngân hàng trước rồi khiếu nại sau, do đó việc mất thẻ credit mà không kịp khoá thẻ tương đương với mất tiền. Bây giờ, các ngân hàng thường có app để khách hàng cài vào smartphone, qua app đó có thể khoá thẻ ngay lập tức mà không cần phải gọi đến ngân hàng như hồi xưa.
Một kiểu mất thẻ khác là thẻ bị sao chép. Thẻ ngân hàng loại cũ dùng dải từ để ghi thông tin thì rất dễ bị sao chép. Khi thẻ đã bị sao chép rồi, kẻ xấu có thể dùng bản sao đó đi mua hàng, hoặc đi rút tiền nếu chép được cả PIN. Thẻ từ có thể bị sao chép trong những trường hợp sau:

Có trường hợp nhân viên tính tiền ở cửa hàng cố nhớ hết thông tin trên hai mặt thẻ rồi sau đó ghi lại vào sổ tay, rồi dùng thông tin đó để mua hàng online ở những cửa hàng không kiểm soát chặt.

Ngoài tài khoản ngân hàng, tôi còn có ví tiền điện tử, tài khoản đầu tư quỹ đầu tư.

Các bài liên quan:
* Những kinh nghiệm khác

Trang-web này được áp-dụng Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDerivatives 4.0 International License. Bạn được phép chép lại trang-web này, với điều-kiện không được thay-đổi nội-dung và không dùng cho mục-đích thu-lợi và ghi rõ nguồn-gốc https://LeHBoi.github.io. Điều kiện trên cũng áp dụng với domain name trước đây của website này là LHBOI.NAME.VN.